Đánh giá của bạn về cổng thông tin điện tử
401 người đã bình chọn
644 người đang online

Truyền thống lịch sử Đảng bộ huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa: (Phần 4)

Đăng ngày 09 - 01 - 2024
100%

ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, GÓP PHẦN BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (1975 - 1985)

LÃNH ĐẠO KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI (1975 - 1977)

Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI lãnh đạo khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội

Cuộc tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, non sông thu về một mối. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mở ra một trang mới trong lịch sử dân tộc. Kể từ đây, dân tộc ta bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ cả nước hòa bình, độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ thống nhất nước nhà về mặt nhà nước, năm 1975, từ ngày 14 đến ngày 20 tháng 12 năm 1976, tại Thủ đô Hà Nội, Đảng ta tiến hành Đại hội lần thứ IV. Đại hội quyết nghị đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam; tổng kết rút ra những bài học trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; xác định phương hướng, nhiệm vụ, đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Báo cáo Chính trị Đại hội IV của Đảng đã xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”. 

Trên cơ sở đường lối chung, báo cáo vạch ra đường lối kinh tế: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế Trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế Trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ phân công, hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc”. 

Ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, trong khí thế phấn khởi tự hào, từ ngày 19 đến ngày 28 - 5 - 1975, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VIII. Đại hội đánh giá tình hình hoạt động của Đảng bộ trong nhiệm kỳ VII (từ tháng 10 - 1969 đến tháng 5 - 1975) và đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong hai năm 1975 - 1977 và những năm tiếp theo là: Tiếp tục quán triệt các Nghị quyết 22, 23 và Chỉ thị 208 của Trung ương, phát huy hơn nữa khí thế cách mạng trong Đảng bộ và nhân dân, phát huy ý chí tự lực tự cường, sử dụng hợp lý tài nguyên, đất đai, lao động và cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có đẩy mạnh 3 cuộc cách mạng, xây dựng nền sản xuất lớn XHCN với tinh thần làm mạnh, làm lớn, giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, tăng thực phẩm và hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, tiến hành công nghiệp hoá XHCN, cải thiện một bước đời sống nhân dân. Tăng cường công tác quân sự địa phương, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội, hoàn thành mọi nghĩa vụ đối với miền Nam, làm tốt nhiệm vụ quốc tế đối với tỉnh Hủa Phăn trong tình hình mới.

Sau năm 1975, Đảng bộ, nhân dân huyện Lang Chánh cùng cả nước tiến vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quân và dân các dân tộc huyện Lang Chánh có những thuận lợi cơ bản đó là: Nhân dân phấn khởi, tự hào với chiến công và thành tích đã đạt được, qua đó phát huy cao độ tinh thần tự lực tự cường, vượt qua khó khăn, thách thức để sản xuất xây dựng quê hương; chiến thắng năm 1975, đã củng cố thêm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; hòa bình lập lại, toàn Đảng, toàn dân tập trung trí tuệ, công sức để phát triển sản xuất nâng cao đời sống; Đảng bộ huyện Lang Chánh luôn coi trọng phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, dũng cảm, mưu trí, hy sinh quên mình trong chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân các dân tộc có ý thức vươn lên trong học tập, xóa bỏ tự ti, xóa bỏ đói nghèo, lạc hậu; cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất.

Tuy nhiên, đất nước ta vừa trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, hậu quả để lại rất nặng nề, cho nên công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội gặp muôn vàn khó khăn. Là huyện miền núi, trình độ dân trí xã hội thấp, sản xuất nhỏ, manh mún, chưa được khôi phục; nền kinh tế của huyện vẫn còn là nền kinh tế lạc hậu, sản xuất tự cấp, tự túc. Mặt khác, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, trình độ quản lý kinh tế, kiến thức khoa học kỹ thuật của cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc chưa được nâng lên. Tiềm năng, thế mạnh của huyện chưa được khai thác, phát huy. Trong kháng chiến chống Mỹ, cùng với nhân dân miền Bắc, nhân dân Lang Chánh tiến hành cải tạo, khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội, dồn sức người, sức của cho chiến đấu, phục vụ chiến đấu và chi viện cho chiến trường miền Nam, vừa phải trực tiếp chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Lang Chánh là huyện nghèo của tỉnh nên cũng là một khó khăn không nhỏ cho việc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục, phát triển kinh tế - văn hóa và ổn định đời sống nhân dân.

Tiếp tục chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ VIII và kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 - 1980); từ ngày 15 - 19/9/1976, Đảng bộ huyện Lang Chánh tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XI. Tham dự Đại hội có 115 đồng chí thay mặt cho hơn 1.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Trước khi vào Đại hội chính thức, Đại hội đã được nghiên cứu thảo luận quán triệt Nghị quyết số 254 chuyển giai đoạn cách mạng mới trong cả nước của Trung ương Đảng, đồng thời nghiên cứu Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng bộ tỉnh để quán triệt, áp dụng vào hoàn cảnh thực tế của Đảng bộ Lang Chánh một cách đầy đủ và sâu sắc.

Diễn ra trong thời điểm có nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI đã nghiêm túc đánh giá, thảo luận kết quả hoạt động trong nhiệm kỳ; Đảng bộ đã chỉ đạo tổ chức lại sản xuất theo Chỉ thị 208 của Trung ương, tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng XHCN ở địa phương nhằm đưa nền sản xuất nhỏ, phân tán lạc hậu của huyện từng bước đi lên sản xuất lớn XHCN, góp phần cùng cả nước xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh. Đại hội đã chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm, đề ra phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa, quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong thời gian tới. Trong đó, lâm nghiệp, nông nghiệp là quan trọng, nhằm nâng cao mức sống của nhân dân.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện gồm 14 đồng chí, đồng chí Hoàng Thi được bầu giữ chức vụ Bí thư Huyện ủy đồng chí Phạm Văn Cướn làm Phó Bí thư, Chủ tịch UBND.

Lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ X, XI

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ X và XI, Ban Chấp hành Đảng bộ chỉ đạo khẩn trương công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội. Huyện ủy đã tổ chức chỉ đạo nhân dân tiến hành sửa chữa, nâng cấp hệ thống giao thông bị đánh phá hư hỏng trong chiến tranh phá hoại. Đặc biệt là tuyến đường 15A - một trong những tuyến đường huyết mạch quan trọng góp phần đảm bảo “4 đường ra, 3 đường vào” trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và đảm bảo sự vận chuyển chi viện cho cách mạng Lào. Nhân dân các địa phương trong huyện mà lực lượng tiên phong nòng cốt là dân quân và thanh niên đã đóng góp công sức cùng với đất đá, gỗ san lấp ổ voi, ổ gà làm lại cầu, cống đảm bảo cho giao thông thông suốt, liên tục.

Công cuộc khai hoang, phục hóa diện tích ruộng đất tại các khu vực trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ trong chiến tranh phá hoại được tiến hành tích cực. Hàng trăm ha ruộng đất được đưa vào cấy hai vụ. Các công trình thủy lợi được sửa chữa nâng cấp và làm mới để có đủ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Trong chiến tranh, rừng bị khai thác tràn lan, do đó vốn rừng bị thu hẹp, diện tích đất trống, đồi núi trọc mở rộng. Kiên quyết phấn đấu khôi phục lại vốn rừng, Đảng bộ tiếp tục phát động phong trào trồng rừng và trồng luồng. Nhờ đó, hàng trăm ha rừng được trồng mới, hàng ngàn ha được chăm sóc, bảo vệ tái sinh.

Hòa bình lập lại, hàng ngàn bộ đội, thanh niên xung phong và thương binh trở về quê hương. Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện đã thực hiện nghiêm túc chính sách hậu phương quân đội. Các chiến sĩ trở về quê hương ưu tiên lựa chọn đưa đi học văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, có đủ năng lực công tác lâu dài, một bộ phận được bố trí tại các cơ quan Nhà nước, công xưởng, xí nghiệp, một bộ phận trở thành cán bộ chủ chốt địa phương. Gia đình đối tượng chính sách được quan tâm chăm sóc giúp đỡ, con em thương binh, liệt sỹ được ưu tiên học tập và bố trí công tác. Hệ thống hợp tác xã nông nghiệp được bổ sung thêm lực lượng lao động, phát triển ngành nghề, mở rộng sản xuất.

Năm 1976, công cuộc xây dựng lại quê hương trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội được triển khai theo Kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 - 1980). Để thực hiện thắng lợi, Huyện ủy đã đề ra giải pháp có ý nghĩa quyết định là: tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ chủ chốt từ xã đến huyện, tiến hành củng cố hệ thống tổ chức chính quyền, mặt trận, đoàn thể các cấp nhằm tăng cường hệ thống chuyên chính vô sản theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV. Để đáp ứng yêu cầu xây dựng quê hương trong tương lai, Huyện ủy đã cắt cử đội ngũ cán bộ trẻ đi học các Trường Chính trị, khoa học kỹ thuật của tỉnh và Trung ương. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, Huyện ủy tổ chức các lớp bồi dưỡng tại huyện và gửi đi học tại các trường quản lý kinh tế của tỉnh. Đối với hệ thống hợp tác xã, Huyện ủy chỉ đạo cải tiến quản lý kinh tế nhằm nâng cao trình độ tổ chức quản lý kinh tế hợp tác xã, chống tham ô, lãng phí, thực hiện ăn chia công khai dân chủ.

Đối với tổ chức cơ sở Đảng, Huyện ủy tập trung chỉ đạo xây dựng tác phong lề lối làm việc, nâng cao chất lượng sinh hoạt, thực hiện chế độ phân công bố trí nhiệm vụ cho từng đảng viên, lấy nhiệm vụ lãnh đạo phát triển kinh tế làm trọng tâm. Nhờ đó, năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành của hệ thống chính trị từng bước được cải tiến, đáp ứng yêu cầu mới. Cùng với tăng cường nâng cao năng lực của hệ thống chính trị, Huyện ủy đã tiến hành nhiều cuộc hội nghị đề ra nhiều chủ trương giải pháp sắc bén, phân công cán bộ tổ chức chỉ đạo thực hiện.

Về phát triển kinh tế

Trong sản xuất nông nghiệp: Đảng bộ xác định rõ ba thế mạnh của huyện là: Chăn nuôi, trồng trọt, nghề rừng đã được đẩy lên một bước, với việc thâm canh và mở rộng diện tích. Vận động nhân dân thi đua lao động sản xuất đạt 5 tấn thóc/ha. Nâng cao thâm canh tăng năng suất lúa, với việc du nhập giống lúa mới vào trên 30% diện tích, gieo cấy kịp thời vụ và bón phân kịp thời, vì vậy diện tích gieo trồng được mở rộng. Chỉ đạo thu chiêm, làm mùa, giải phóng đất nhanh; hoàn thành nghĩa vụ lương thực với Nhà nước đạt 133%. Các hợp tác xã quản lý lao động thực hiện tốt phong trào thu chiêm làm mùa, như xã Yên Khương tuy lúa chín muộn nhưng tốc độ gặt nhanh nên làm nghĩa vụ lương thực, thực phẩm nhanh nhất toàn huyện. Một số bản ở xã Giao An, xã Đồng Lương đã có nhiều chuyển biến tích cực trong sản xuất nông nghiệp. Nhiều hợp tác xã phấn đấu đạt năng suất từ 4 - 4,5 tấn thóc/ha gieo trồng. Sản lượng lương thực quy thóc vụ chiêm năm 1976 vượt vụ mùa 1975 là 9%, đàn lợn vượt 4,3%, đàn trâu bò vượt 5%. Năm 1977, sản lượng lương thực vượt năm 1976 là 98%, trồng được 473 ha sắn, ngô xuân trồng được 64.9 ha, khoai trồng được 11 ha.

Về chăn nuôi: Đàn trâu có 5.537 con, đàn bò có 3.489 con, đàn lợn có 5.987 con. Hằng năm, thu mua lợn đạt 90% so với kế hoạch; thu mua trâu, bò đạt 80% so với kế hoạch Nhà nước nhưng vẫn đảm bảo sức kéo cho sản xuất nông nghiệp.

Về lâm nghiệp: Cuối năm 1976, việc giao đất, giao rừng theo Quyết định 184 của Chính phủ cho hợp tác xã và lâm trường quốc doanh quản lý đã hoàn thành. Việc trồng luồng đã trở thành phong trào quần chúng và thu được kết quả. Việc khai thác lâm sản bước đầu được chú ý đúng mức. Toàn huyện đã vượt kế hoạch khai thác lâm sản cung cấp cho tỉnh hàng vạn cây luồng, nứa, hàng trăm mét khối gỗ. Đã trồng mới 258 ha luồng. Thực hiện cuộc vận động định canh, định cư đã hạn chế được nạn phá rừng, nhân dân làng bản ở vùng cao đã định canh, định cư, đời sống ổn định hơn trước.

Cùng với khôi phục phát triển kinh tế trên địa bàn huyện, cuối năm 1975 đã hoàn thành 2 tuyến đường đi Chiếu Bang và Tam Văn. Từ năm 1975 - 1977, huyện Lang Chánh đã cử hàng ngàn lao động trong các đơn vị 202 (các đội thủy lợi chuyên của các xã) và hàng ngàn thanh niên góp phần cùng cả tỉnh tiến hành xây dựng cống Quảng Châu, công trình thủy lợi sông Hoàng, sông Lý, cống Lạch Bạng, hồ Yên Mỹ, hồ sông Mực…

Về văn hóa - xã hội

Trong chiến tranh, hệ thống bệnh viện, trường học phải sơ tán và đào đắp tường thành chống bom đạn. Hòa bình lập lại, Đảng bộ và nhân dân trong huyện đóng góp nguyên vật liệu xây dựng lại khang trang để có đủ trường lớp cho con em học tập, có đủ bệnh xá phục vụ công tác khám chữa bệnh cho nhân dân. Cùng với xây dựng bệnh viện, trường học, các cơ quan, xí nghiệp, chợ được xây dựng lại ở các vị trí trung tâm. Phố huyện được phát triển mở rộng.

Hệ thống trường cấp I, cấp II và cấp III được sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới. Số lượng học sinh cấp III niên khóa 1975 -1976 tăng hơn niên khóa 1974 -1975 là 358 em. Hệ thống mầm non, mẫu giáo được củng cố, phát triển mở rộng. Cơ sở vật chất khám chữa bệnh được tăng cường, đồng bào các dân tộc được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe. Các bệnh sốt rét, bệnh lao từng bước được khắc phục. Năm 1976, bệnh sốt rét trên địa bàn toàn huyện được loại trừ. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao quần chúng được duy trì phát triển mở rộng. Hợp tác xã nông nghiệp đã đầu tư kinh phí và nhân lực đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động văn hóa cơ sở.

 Về quốc phòng - an ninh

Công tác quân sự địa phương không ngừng được tăng cường về tổ chức và hoạt động theo yêu cầu của thời kỳ mới. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã tổ chức quán triệt trong cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị Nghị quyết số 04 của Tỉnh ủy “Về công tác quân sự địa phương và Nghị quyết số 04 của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh “Về xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn cấp huyện”. Huyện ủy chỉ đạo xây dựng dân quân, tự vệ với nội dung “Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp đủ sức chiến đấu bảo vệ địa phương và làm nòng cốt xung kích trong lao động sản xuất”. Các đội 202 được xây dựng thành những đội tự vệ có nhiệm vụ làm lực lượng nòng cốt trong làm thủy lợi, xây dựng cơ bản, giao thông, xây dựng phương án sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ sản xuất, bảo vệ trị an; đồng thời là lực lượng dự bị đáp ứng yêu cầu bổ sung cho bộ đội chủ lực khi cần thiết. Công tác tuyển quân hàng năm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị trong huyện đã luôn thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Những chiến sĩ quân đội từ chiến trường trở về đều được Đảng ủy, chính quyền và các hợp tác xã bố trí việc làm theo nguyện vọng và đảm bảo chế độ để ổn định cuộc sống. Nhiều chiến sĩ sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở chiến trường trở về địa phương đã tham gia công tác ở xã, thôn và hợp tác xã.

Công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được tăng cường theo yêu cầu của thời kỳ mới. Phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc thực hiện tốt theo tinh thần Nghị quyết 02 của Tỉnh ủy.

Công tác xây dựng Đảng và chính quyền

Đảng bộ huyện đã tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII cho 6.178 người, trong đó có 552 đảng viên, 367 đoàn viên thanh niên. Quán triệt Nghị quyết 23 của Trung ương về tổ chức sinh hoạt trong Đảng. Tổng số đảng viên trong toàn Đảng bộ đã tham gia sinh hoạt là 565/806 đồng chí, đạt 70%. Đối với cơ sở Đảng, Huyện ủy tập trung chỉ đạo xây dựng tác phong lề lối làm việc, nâng cao chất lượng sinh hoạt, thực hiện chế độ phân công bố trí nhiệm vụ cho từng đảng viên, lấy nhiệm vụ lãnh đạo phát triển kinh tế làm trọng tâm. Nhờ đó, năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành của hệ thống chính trị từng bước được cải tiến, đáp ứng yêu cầu mới.

Một số cơ quan xí nghiệp có nhiều chuyển biến mới trong công tác quản lý kinh tế, quản lý lao động, lề lối làm việc có chất lượng, ngày công cao như Đội 5 thuộc Lâm trường, đơn vị Công ty cầu đường, Hạt giao thông đã bố trí bộ phận hành chính gián tiếp, công nhân viên chức xuống trực tiếp lao động sản xuất, nhiều đơn vị cơ quan, xí nghiệp đã hoàn thành kế hoạch được giao.

Trong những năm 1975 - 1977, phong trào làm thủy lợi, khai hoang, phục hóa, xây dựng nền kinh tế mới, xây dựng pháo đài quân sự huyện, thực hiện chính sách hậu phương quân đội, thực hiện nghĩa vụ quân sự… Hội Phụ nữ tiếp tục phát huy tốt phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “Cấy đúng kỹ thuật, kịp thời vụ”, xúc tiến kế hoạch đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, hỗ trợ nhau về vốn và giống. Đoàn thanh niên tiếp tục phát huy phong trào “3 xung kích làm chủ tập thể” xây dựng nếp sống mới, các tổ chức đoàn ở các cơ quan, trường học, ở các xã đều có phong trào hành động phù hợp với tình hình, nhiệm vụ chính trị của huyện và đoàn các cấp.

Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về đời sống vật chất và tinh thần sau khi hòa bình lập lại, nhưng chỉ sau hai năm phấn đấu khẩn trương, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ và sự nỗ lực phấn đấu của đồng bào các dân tộc, Lang Chánh đã từng bước tháo gỡ khó khăn, khôi phục và hàn gắn vết thương chiến tranh, vượt qua thử thách, khôi phục kinh tế, văn hóa, củng cố quốc phòng - an ninh, ổn định đời sống nhân dân. Đồng thời, đã tạo những yếu tố, tiền đề thiết yếu về cơ sở chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng và công tác tổ chức cán bộ để bước vào thời kỳ mới. Đến tháng 7 - 1977, Hội đồng Chính phủ quyết định hợp nhất huyện Ngọc Lặc và huyện Lang Chánh thành huyện Lương Ngọc, Đảng bộ huyện Lang Chánh tiếp tục thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình trong điều kiện mới.

THÀNH LẬP HUYỆN LƯƠNG NGỌC, ĐẢNG BỘ HUYỆN LƯƠNG NGỌC LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC (1977 - 1982)

Thành lập đơn vị hành chính mới cấp huyện và xác định phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ quê hương trong tình hình mới

Vào những năm cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, đất nước ta gặp nhiều khó khăn, thử thách lớn, cơ chế quản lý “Tập trung quan liêu, bao cấp” ngày càng bộc lộ những khuyết điểm, tiêu cực cản trở lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, tình hình thời tiết không thuận lợi, thiên tai liên tiếp xảy ra. Lương thực, thực phẩm thiếu hụt nghiêm trọng. Các loại vật tư, nguyên liệu, vật liệu thiếu thốn, sản xuất công - nông - lâm nghiệp không đạt kế hoạch. Công tác quản lý còn bộc lộ nhiều yếu kém, kéo dài nhiều năm không giải quyết được. Nền kinh tế đất nước lâm vào khủng hoảng.

 Sau ngày nước nhà thống nhất, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương xây dựng cấp huyện thành pháo đài chính trị, quân sự, kinh tế vững chắc của chủ nghĩa xã hội. Thực hiện chủ trương của Đảng, Hội đồng Chính phủ đã thực thi nhiều chính sách xây dựng cấp huyện, trong đó có việc điều chỉnh đơn vị hành chính một số tỉnh, huyện cho phù hợp với yêu cầu mới.

Căn cứ vào đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, ngày 05 - 7 - 1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 177/CP về điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa, trong đó có hợp nhất huyện Ngọc Lặc và huyện Lang Chánh thành huyện Lương Ngọc với 33 xã, thị trấn. Đảng bộ hai huyện cũng hợp nhất thành Đảng bộ huyện Lương Ngọc. Đây là thuận lợi, đồng thời cũng là khó khăn mới đặt ra cho cấp ủy, chính quyền của một huyện miền núi với địa bàn rộng, dân số đông.

Sau một thời gian chuẩn bị điều kiện về tư tưởng và tổ chức, huyện Ngọc Lặc và Lang Chánh sát nhập thành huyện Lương Ngọc, Đảng bộ huyện Ngọc Lặc và Lang Chánh sát nhập thành Đảng bộ huyện Lương Ngọc. Tháng 8 năm 1977, tại Trường Đảng huyện Ngọc Lặc, Đảng bộ huyện Lương Ngọc tiến hành Đại hội lần I (cán bộ, đảng viên huyện Lang Chánh xem đây là Đại hội lần thứ XII của Đảng bộ huyện Lang Chánh).

Đại hội Đảng bộ huyện Lương Ngọc đã đánh giá tình hình của huyện từ khi sáp nhập huyện mới trong điều kiện có nhiều khó khăn do nắng hạn kéo dài, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn nhưng Ban Thường vụ Tỉnh ủy có chủ trương, biện pháp chỉ đạo chặt chẽ, từng bước có sự phối hợp giữa ngành và huyện, tiến hành khẩn trương, tích cực, do đó đã tạo được sự nhất trí cao, phấn khởi từ trong Đảng đến quần chúng. Về nhân sự được tiến hành dân chủ, thận trọng, sắp xếp bộ máy và cán bộ đảm bảo được sự đoàn kết nhất trí trong đội ngũ cán bộ của cơ quan mới, kịp thời phát huy được tinh thần trách nhiệm của cán bộ, nhân viên trong việc chỉ đạo thực hiện công tác trước mắt.

Về lãnh đạo, chỉ đạo có những mặt tiến bộ tập trung toàn diện, dứt điểm, phát huy được dân chủ, đề cao được trách nhiệm của mỗi ngành, mỗi cán bộ, bước đầu đã dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất xây dựng và tổ chức đời sống trong quần chúng.

Đại hội đã nêu rõ những kết quả đã đạt được, những mặt còn yếu kém và tìm ra nguyên nhân của tồn tại. Đặc biệt là các đại biểu đã tập trung vào công tác xây dựng chính quyền và xây dựng Đảng, Đại hội chỉ rõ: Về công tác chính quyền, cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp đã tập trung chỉ đạo tốt, phát huy quyền làm chủ của tập thể của quần chúng trong việc lựa chọn đại biểu. Do đó, vai trò, chức năng, trách nhiệm của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp được tăng cường, lề lối làm việc và công tác bước đầu có cải tiến trong việc thực hiện kế hoạch của Nhà nước; quản lý xã hội, giáo dục, tổ chức quần chúng thực hiện kế hoạch và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, bảo vệ và phát huy được quyền làm chủ của tập thể, của nhân dân trong việc thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch hợp tác, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của công dân”. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại đó là: Vai trò của Hội đồng nhân dân chưa được đề cao, chức năng và trách nhiệm chưa thực hiện đúng, lề lối việc còn hạn chế nhất là ở cơ sở. Một số nơi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Các cơ quan pháp luật chưa thật sự sát cơ sở; chưa có biện pháp triệt để, kịp thời để ngăn chặn hành vi phạm pháp.

Công tác xây dựng Đảng được quan tâm, số lượng, chất lượng đảng viên và tổ chức Đảng được nâng lên. Hằng năm, kết nạp được trung bình 70 đảng viên mới, trong đó trình độ học vấn cấp II đạt 62%, cấp III đạt 29%, đại học 9%. Các Đảng bộ đã xác định được nhiệm vụ chính trị, xác định rõ mục tiêu phấn đấu, nhiều chi bộ đã thực sự đi vào đời sống nhân dân. Song cũng còn một số hạn chế, về nhận thức và trình độ năng lực của đại đa số đảng viên chưa được nâng lên, nhận thức về cải tiến quản lý, về tổ chức lại sản xuất, về khoa học kỹ thuật còn hạn chế. Tinh thần, trách nhiệm và ý thức kỷ luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cao. Việc giải quyết các chi bộ yếu kém chưa có sự chỉ đạo chặt chẽ. Đội ngũ cán bộ, năng lực tổ chức, chỉ đạo có hạn, một số cán bộ có tư tưởng tư lợi, bảo thủ, quan liêu, mệnh lệnh với quần chúng, tham ô, lợi dụng. Lực lượng cán bộ nữ có xu hướng giảm xuống.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá khách quan tình hình đặc điểm của huyện trong giai đoạn mới của cách mạng, Đại hội đã khẳng định: Năm 1978 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm 1976 - 1980, phải phấn đấu để khắc phục cho được tình trạng trì trệ trong những năm qua, tạo ra sự chuyển biến trong nền kinh tế, làm cho việc thực hiện kế hoạch những năm còn lại của kế hoạch 5 năm.

Quán triệt sâu sắc và thực hiện đầy đủ Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng huyện, xã, hợp tác xã vững mạnh. Tăng cường công tác xây dựng Đảng, xây dựng và củng cố chính quyền vững mạnh, nâng cao chất lượng đảng viên, giải quyết dứt điểm số đảng viên trung bình và yếu kém kéo dài.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện gồm 31 đồng chí thay thế Ban Chấp hành lâm thời, bầu đồng chí Triệu Văn Hữu làm Bí thư; đồng chí Lê Văn Phừa làm Phó Bí Thư Thường trực Huyện ủy; Đồng chí Hoàng Thi giữ chức Phó Bí Thư - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện.

Đại hội xác định phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội và quốc phòng, đảm bảo yêu cầu vừa sản xuất vừa chiến đấu, đánh bại âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch. Tổ chức lãnh đạo nhân dân huyện nhà ra sức thi đua xây dựng huyện mới phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện.

 Sau Đại hội, Ban Chấp hành Đảng bộ đã họp và xác định: các cấp ủy Đảng và chính quyền phải chuyển hướng mạnh mẽ, chỉ đạo kinh tế, nắm vững khoa học kỹ thuật và quản lý, tăng cường toàn diện các biện pháp chỉ đạo trong cả quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch. Đồng thời, phát động phong trào cách mạng của quần chúng trong nông dân tập thể, trong công nhân viên chức, trong mỗi tầng lớp và từng đoàn thể, trong các lực lượng dân quân, du kích địa phương để hoàn thành kế hoạch năm 1978. Ban Thường vụ Huyện ủy còn ban hành Nghị quyết về “Công tác trước mắt”, nội dung chính của Nghị quyết thể hiện:

1. Tập trung cao độ mọi lực lượng, phương tiện để thu hoạch nhanh chóng vụ mùa. Tập trung toàn bộ lực lượng nam, nữ tập trung cho thu hoạch; khoán cho từng hộ để gặt từng thửa ruộng, lập đội chuyên gánh, chuyên vận chuyển. Đối với các cơ quan, trường học, xí nghiệp, đơn vị bộ đội đóng quân trong huyện phải bố trí công tác tham gia gặt mùa với nông dân từ 7 - 10 ngày.

2. Sản xuất vụ đông, vụ chiêm xuân 1978 - 1979 cần khẩn trương, giải phóng đất nhanh. Tất cả các cơ quan, trường học, xí nghiệp đều phải sản xuất vụ đông. Đối với vụ chiêm xuân, gặt đến đâu cày bừa đến đó. Các hợp tác xã phải quy hoạch thiết kế ruộng một vụ lúa của tập thể làm bao nhiêu còn lại cho gia đình mượn đất để trồng khoai, ngô.

3. Về thủy lợi và giao thông, cần tăng thêm nhân lực cho đội tình nguyện có đủ 1.000 quân đúng với lực lượng 203 chuyên ở các xã vận chuyển đá, cát, khi mãn gặt sẽ huy động khoảng 2.000 quân của lực lượng 203 các xã để làm đường.

4. Về đời sống, hết sức chăm lo đời sống tinh thần cũng như vật chất cho người lao động, ngành thương nghiệp tính toán lo hậu cần, phục vụ tại chỗ cho sản xuất và đời sống. Thông tin, văn hóa, tuyên truyền người tốt, việc tốt, phê phán những việc xấu, thái độ xấu, mang phim ảnh phục vụ động viên tại công trường, đồng ruộng.

Về Y tế, tổ chức mạng lưới phục vụ tại nơi sản xuất, có thuốc chữa bệnh thông thường, các bệnh viện, bệnh xá đảm bảo tốt việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Công an, quân sự có kế hoạch bảo vệ an toàn, chu đáo tài sản xã hội chủ nghĩa và của nhân dân.

5. Huyện ủy, Ủy ban huyện phải bám sát cơ sở, giúp xã nắm chắc tình hình để xử lý và đáp ứng nhanh nhất cho sản xuất. Sử dụng đúng chức năng các ngành; chú trọng cải tiến lề lối làm việc, chủ động sáng tạo trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện và các cấp ủy cơ sở, phong trào cách mạng trong huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực. Trong sản xuất nông nghiệp, cả trồng trọt và chăn nuôi đều tăng hơn năm 1977, đặc biệt là cây màu. Do vậy, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện. Sản xuất lâm nghiệp ổn định, phong trào trồng luồng vẫn được giữ vững. Khai thác, tu bổ rừng ở khu tập thể tiến bộ hơn. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã có thêm một số cơ sở sản xuất có tác dụng phục vụ sản xuất và xây dựng. Sự nghiệp giáo dục, văn hóa thông tin, y tế, thể dục, thể thao… đều có chuyển biến về chất. Điểm nổi bật của Đảng bộ trong lúc này là sự nhanh nhạy trong chỉ đạo nhiệm vụ chính trị của huyện. Sự kịp thời chuyển hướng quân sự, bảo vệ quê hương, bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc Tổ quốc. Công tác an ninh, bảo vệ an toàn quê hương được coi trọng. Đảng bộ đã chú ý phát triển lực lượng bộ đội địa phương vững mạnh, sẵn sàng đi bất cứ lúc nào khi Tổ quốc cần. Do có sự chuẩn bị chu đáo cả về tư tưởng, cả về vật chất cho nên trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, lãnh thổ Tổ quốc, con em huyện Lương Ngọc đã hăng hái không quản hy sinh, vượt lên tuyến trước cùng đồng đội đánh thắng kẻ thù trực tiếp của dân tộc.

Phong trào lao động sản xuất, đặc biệt là phong trào làm thủy lợi, khai hoang mở rộng diện tích phát triển sôi nổi ở khắp nơi. Các tổ chức đoàn thể: Công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ, Mặt trận, Hội Nông dân tập thể đã phát huy vai trò nòng cốt của mình trong sản xuất, tuyển quân chi viện. Bộ máy chính quyền từ xã đến huyện được kiện toàn, phát huy hiệu lực trong tổ chức, quản lý kinh tế, xã hội. Với gần 3.000 đảng viên và 67 tổ chức cơ sở Đảng trong toàn Đảng bộ. Công tác xây dựng Đảng được Đảng bộ chăm lo, tăng cường giáo dục lý luận, sinh hoạt chính trị tư tưởng thường xuyên, các tổ chức cơ sở Đảng được củng cố, kiện toàn.

Những năm 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô bộc lộ trì trệ và gặp nhiều khó khăn, quan hệ giữa các nước XHCN có nhiều diễn biến phức tạp, tác động không nhỏ đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch dùng nhiều thủ đoạn thâm độc phá hoại đất nước ta cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội.

Những tháng cuối năm 1978, tình hình phía biên giới Tây Nam và phía Bắc ngày càng diễn biến hết sức phức tạp. Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ thị mở Cuộc vận động “Nhằm phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân”. Tỉnh ủy Thanh Hóa đã tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh để sẵn sàng đánh địch trong mọi tình huống. Đất nước nằm trong hoàn cảnh vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh.

Thời tiết diễn biến phức tạp, những năm 1979 các đợt rét đậm, rét hại kéo dài, năm 1980 lũ lụt nặng nề, mùa màng thiệt hại, sản lượng lương thực không đạt; lương thực, thực phẩm thiếu thốn, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.

Để kịp thời chỉ đạo toàn dân xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước trong điều kiện mới, từ ngày 25 - 7 đến ngày 01 - 8 - 1979, Đảng bộ huyện Lương Ngọc tiến hành Đại hội lần thứ II với sự tham dự của gần 200 đại biểu thay mặt cho trên 3.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Trong 6 ngày làm việc khẩn trương và nghiêm túc, tập trung trí tuệ và tâm huyết, phát huy quyền làm chủ trong Đại hội, với tinh thần trách nhiệm cao, Đại hội đã tập trung đánh giá kết quả hoạt động trong một nhiệm kỳ, đúc rút nguyên nhân thành công, hạn chế; kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ trong nhiệm kỳ qua. Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội, chính trị, quốc phòng - an ninh trong điều kiện mới. Đại hội đã xác định phương hướng, nhiệm vụ chung như sau:

Tiếp tục phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1976 - 1980). Kết hợp phát triển văn hóa với quốc phòng. Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng các cụm tuyến phòng thủ vững chắc, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương, bảo vệ vững chắc vùng biên giới Thanh Hóa - Hủa Phăn. Tích cực chi viện sức người, sức của, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Góp phần giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh, thực hiện chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng huyện thành pháo đài chính trị, quân sự, kinh tế vững chắc. Phấn đấu đến năm 1980 đạt 35.000 tấn lương thực, 32.000 con lợn, 23.000 con trâu, trồng 3.000 ha luồng, làm nghĩa vụ 3.000 tấn thóc, 200 tấn thực phẩm, sản xuất hàng hóa xuất khẩu 600.000 đồng, bình quân mức ăn về lương thực đạt  từ 19 - 23kg/người/tháng. Thu ngân sách 4 triệu đồng, vận động gửi tiền tiết kiệm bình quân nhân khẩu đạt 50.000 đồng.

Đại hội đã nhất trí thông qua những biện pháp lớn: “Nâng cao vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 208 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Nghị quyết 61, Nghị quyết 38 của Hội đồng Chính phủ về tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý nông lâm nghiệp và công tác định canh, định cư, củng cố hợp tác xã vững mạnh. Ra sức phát triển kinh tế toàn diện trọng tâm là sản xuất lương thực, thực phẩm, ổn định đời sống nhân dân, tạo được nhiều mặt hàng xuất khẩu. Đóng góp ngày càng nhiều lương thực, thực phẩm nông - lâm sản cho Nhà nước; đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội".

Để thực hiện những mục tiêu đề ra, Đại hội đã ra Nghị quyết “Ra quân đánh thắng trận đầu”, chỉ rõ: “Với truyền thống đoàn kết các dân tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng ta. Với khả năng, tiềm năng to lớn sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, trên dưới một lòng, cả huyện là một mặt trận. Mỗi chi bộ Đảng là một pháo đài chiến đấu, mỗi đảng viên là một chiến sĩ kiên cường, mỗi người dân là một chiến sĩ xung kích quyết ra quân đánh thắng trận đầu trên mặt trận sản xuất nông - lâm - nghiệp, hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu kế hoạch trên mọi lĩnh vực”.

Kết hợp phát triển văn hóa với quốc phòng, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng các cụm tuyến phòng thủ vững chắc, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương, bảo vệ vững chắc vùng biên giới Thanh Hóa - Hủa Phăn. Tích cực chi viện sức người, sức của bảo vệ từng tấc đất biên giới thiêng liêng tại phía Tây Nam và phía Bắc Tổ quốc, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền dân tộc. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh, thực hiện chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng huyện thành pháo đài chính trị, quân sự, kinh tế vững chắc.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện gồm 31 đồng chí ủy viên chính thức và 02 đồng chí ủy viên dự khuyết; đồng chí Nguyễn Đình Tụ được bầu giữ chức Bí thư Huyện ủy; Đồng chí Triệu Văn Hữu được bầu giữ chức Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy; Đồng chí Hoàng Thi được bầu giữ chức Phó Bí thư - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện.

Kết quả phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc

Tháng 10 năm 1979, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ X đã chỉ ra nhiệm vụ trong năm 1979 - 1980 là “Thực sự có chuyển biến cách mạng về thâm canh tăng năng xuất lúa mùa, cây công nghiệp ở mọi vùng, mọi vụ. Đồng thời, tích cực mở rộng diện tích bằng tăng vụ, xen canh gối vụ, đưa hết diện tích khai hoang mở rộng diện tích ở trung du, miền núi kết hợp với bảo vệ rừng, tiến hành khẩn trương có chuẩn bị chu đáo, để sản xuất đạt hiệu quả thiết thực”. Đại hội chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể trong năm 1980 - 1981 đó là “Trong hai năm tới đưa lao động lên trung du miền núi 3 vạn, chú trọng cả lao động sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản, tập trung chỉ đạo vùng trung du miền núi, phải kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp với lâm nghiệp, tiếp tục đẩy mạnh công tác định canh, định cư, nghiêm cấm đốt phá rừng, củng cố quy hoạch sản xuất, củng cố hợp tác xã nông nghiệp”.

Quán triệt vận dụng các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Lương Ngọc đã chỉ đạo nhân dân huyện nhà thực hiện đạt kết quả toàn diện trên các mặt sau:

Về kinh tế

Dưới ánh sáng của các kỳ đại hội Đảng bộ huyện và trên cơ sở tiềm năng đất đai và lao động dồi dào, Huyện ủy đã đề ra nhiều chủ trương và giải pháp kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng. Huyện ủy chủ trương lựa chọn những chiến sĩ có đủ điều kiện trong các đơn vị dân quân tự vệ xây dựng thành các đơn vị dân quân mạnh vừa làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu vừa đảm nhận công tác thủy lợi trong các Hợp tác xã (đó là các đơn vị 202 chuyên làm công tác thủy lợi). Huyện ủy đã chỉ đạo các địa phương tập trung lực lượng xây dựng các công trình thủy lợi vừa và nhỏ trên địa bàn huyện. Đó là đập Cống Khê, đập Hón Phách đã đảm bảo tưới tiêu cho 149 ha ruộng đất… kết hợp với công tác thủy lợi, các địa phương trong huyện tiến hành sửa chữa nâng cấp làm mới các tuyến đường giao thông nông thôn. Bên cạnh phát triển thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và bằng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước và lực lượng lao động của các xã, huyện Lương Ngọc đã sửa chữa, nâng cấp và làm mới các các tuyến đường giao thông nông thôn lên các xã vùng cao Yên Khương, Lâm Phú… Riêng năm 1980, đã xây dựng hoàn chỉnh 4 km đường cấp II và tu sửa hàng chục km các tuyến đường cũ, phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội.

Để phục vụ sản xuất nông nghiệp, xưởng Cơ khí của huyện đã được đầu tư mở rộng, mỗi năm sản xuất hàng ngàn công cụ cầm tay và công cụ cải tiến cung cấp cho các HTX. Trong toàn huyện đã có 17 hợp tác xã tổ chức sản xuất được gạch, ngói; 8 xã sản xuất vôi; 4 xã sản xuất đá. Nhờ đó, nhà kho, sân phơi, trụ sở các hợp tác xã có điều kiện xây dựng mở rộng đàng hoàng hơn trước.

Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 - 1980) mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, thiên tai, hạn hán kéo dài, một số cán bộ công nhân viên chức Nhà nước phải về địa phương tự túc lương thực, nhưng Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện đã cố gắng sản xuất nông nghiệp, diện tích trồng lúa được mở rộng, diện tích trồng màu tăng 2,9%, góp phần cải thiện đời sống nhân dân; thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước. Hợp tác xã được củng cố và tổ chức lại sản xuất.

Tuy nhiên, các cơ sở kinh tế trong huyện, đặc biệt là hệ thống hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, do cơ chế quản lý còn nhiều hạn chế, không phát huy được tinh thần làm chủ của người lao động, từ đó dẫn đến tình trạng năng suất, sản lượng ngày càng sút kém, đời sống xã viên khó khăn.

Ngày 13 - 01 - 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 100 về “Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong Hợp tác xã nông nghiệp” (gọi tắt là khoán 100). Thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982) và kế hoạch triển khai của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa, Đảng bộ huyện Lương Ngọc đã tổ chức chỉ đạo khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động. Trước hết, Huyện ủy đã tổ chức quán triệt sâu rộng nội dung Chỉ thị 100 và kế hoạch triển khai của Tỉnh ủy trong toàn Đảng bộ và toàn dân. Tổ chức bồi dưỡng chuyên đề về kế hoạch triển khai Chỉ thị 100 cho đội ngũ cán bộ quản lý HTX, được sự hưởng ứng học tập của đông đảo bà con nông dân. Lãnh đạo huyện đã nắm bắt tình hình đặc điểm miền núi để vận dụng khéo léo, linh hoạt đối với từng vùng, từng đối tượng để tuyên truyền, vận động và lựa chọn các đơn vị chỉ đạo điểm để rút kinh nghiệm nhân ra diện rộng. Thông qua học tập và cách làm trong vụ chiêm năm 1981, bà con nông dân các dân tộc đã nhiệt liệt hoan nghênh, tạo ra phong trào lao động sản xuất sôi nổi.

Từ ngày 21 đến ngày 22 - 01 - 1981, Ban Thường vụ Huyện ủy đã họp bàn kế hoạch phát triển kinh tế, trong đó chú trọng phát triển kinh tế nông - lâm, thủ công nghiệp. Hội nghị đã rút ra nguyên nhân chủ quan và khách quan những tồn tại trong những năm 1980 và trước đó. Nghị quyết nhấn mạnh: “Trong tổ chức thực hiện thiếu tinh thần vươn lên khắc phục mọi khó khăn để phấn đấu hoàn thành kế hoạch, việc thực hiện đường lối của Đảng, chủ trương của Nhà nước còn tùy tiện, làm đến đâu hay đến đó, dễ thì làm, khó thì bỏ, đặc biệt trong nông nghiệp, thủ công nghiệp, đất đai hoang hóa, tài nguyên không được khai thác; nghĩa vụ đối với Nhà nước không hoàn thành, đời sống nhân dân gặp nhiều thiếu thốn, khó khăn. Trong công tác quản lý kinh tế, đặc biệt trong công nghiệp chưa thực hiện tốt chế độ 3 khoán, thưởng phạt thiếu nghiêm minh, chưa gắn chặt giữa 3 lợi ích: Người lao động, tập thể, nhà nước, các chính sách đòn bẩy kinh tế chưa được vận dụng, chưa chấp hành đúng mức và triệt để, mặt khác một số cán bộ còn tham ô, lợi dụng, ăn cắp”.

Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Huyện ủy đã quyết định: Phải phát triển mạnh nông, lâm, tiểu thủ công nghiệp, giải quyết cho được vấn đề lương thực, thực phẩm, nông cụ cầm tay, vật liệu xây dựng và một số hàng tiêu dùng cho được nguồn hàng xuất khẩu. Tất cả các ngành xây dựng cơ bản phân phối lưu thông, văn hóa thông tin đều tập trung vào việc thúc đẩy sản xuất nông, lâm, thủ công nghiệp phát triển.

Đầu năm 1981, thực hiện Chỉ thị 100, các hợp tác xã được Huyện ủy lựa chọn làm điểm đã nhanh chóng đo đạc lại ruộng đất, vận động từng lao động hoặc nhóm, tổ lao động nhận ruộng khoán. Trong một vụ tổ chức làm điểm, các hợp tác xã nói trên đã có năng xuất và sản lượng vượt trội, Huyện ủy tổng kết kinh nghiệm rút ra nguyên nhân thành công và hạn chế sau đó triển khai Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ở tất cả các hợp tác xã nông nghiệp trong toàn huyện. Trước khi bắt đầu sản xuất vụ mùa năm 1981, Huyện ủy đã tổ chức bồi dưỡng kinh nghiệm khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động cho 849 đội trưởng, đội phó và các Ban Quản lý của các hợp tác xã. Tính đến tháng 7 - 1981, toàn huyện đã có 126 hợp tác xã thực hiện Chỉ thị 100. Cuối năm 1981, các hợp tác xã còn lại triển khai đồng loạt cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động. Trong quá trình thực hiện Chỉ thị 100, lực lượng lao động gián tiếp dôi dư, Huyện ủy đã kịp thời điều chỉnh lại quy mô hợp tác xã và kiện toàn toàn lại các Ban Quản lý hợp tác xã, giảm nhẹ lực lượng lao động gián tiếp, bổ sung lực lượng lao động trực tiếp trên đồng ruộng, nhờ đó khí thế thi đua lao động sản xuất khẩn trương sôi nổi, các mặt tiêu cực trong quản lý, trong sản xuất từng bước được khắc phục.

Trước khi chưa thực hiện cơ chế khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, người nông dân chỉ quan tâm đến công điểm được nhiều hay ít, không quan tâm đến chất lượng, hiệu quả công việc. Vì vậy, thợ cày thì cày dối, bừa ẩu, cày bừa không đến đầu, đến góc, vụ này bỏ hoang vài đường cày, vụ sau bỏ hoang vài đường cày, cuối cùng sào ruộng chỉ còn 300 - 400m2 gieo trồng. Thợ cấy thì bên ngoài cấy dày, bên trong cấy thưa, mật độ cây lúa không đảm bảo, năng suất thấp, chăn nuôi trâu, bò thì bỏ đói, bỏ rét, do thiếu nguồn thức ăn mùa đông nên trâu bò chết hàng loạt. Trong các hợp tác xã vẫn còn diễn ra tình trạng chọn việc dễ, bỏ việc khó diễn ra từng ngày. Lực lượng lao động gián tiếp ngày càng đông, đội ngũ cán bộ quản lý phình to nhưng trình độ quản lý sản xuất thì thấp kém, tiêu cực diễn biến phức tạp. Tình trạng móc ngoặc, bớt xén sản phẩm của hợp tác xã gia tăng, tình trạng kê khai sản lượng, giấu diện tích trong các hợp tác xã  phổ biến… vì vậy, năng suất, sản lượng năm sau thấp hơn năm trước. Nạn thiếu đói lương thực, thực phẩm diễn ra hàng năm. Những năm thiên tai mất mùa, xã lên huyện, huyện lên tỉnh, tỉnh lên Chính phủ xin hỗ trợ lương thực, Chính phủ phải ra nước ngoài xin viện trợ lương thực hoặc mua lương thực cứu đói.

Để triển khai Nghị quyết có hiệu quả, đồng thời nhằm chất dứt tình trạng trì trệ trong sản xuất, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Lương Ngọc đã chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 100 trong tất cả các hợp tác xã; áp dụng cách khoán 10 cả cây lúa và cây màu. Đối với cây lúa có thể áp dụng 3 hình thức: Một là giao khoán cho đội thưởng phạt 100% bằng hiện vật; hai là, khoán từng khâu đến sản phẩm cuối cùng cho từng nhóm thưởng phạt 100% bằng hiện vật; ba là, khoán từng khâu đến sản phẩm cuối cùng cho người lao động thưởng phạt 100% bằng hiện vật.

Đối với cây màu như: Ngô, khoai, sắn khoán từng khâu đến sản phẩm cuối cùng cho người lao động, thưởng phạt 100% bằng hiện vật.

Đưa kinh tế gia đình xã viên vào kế hoạch của hợp tác xã, hợp tác xã phân chia và quy hoạch vùng đất đai cho xã viên không kể đất vườn. Mỗi xã viên có từ 700 - 1.000m2, cho xã viên mượn thêm đất mà đội sản xuất, hợp tác xã làm không hết.

Sau khi thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, nông dân đã quan tâm đến sản phẩm cuối cùng, vì sản phẩm cuối cùng là lợi ích xã viên. Đó chính là động lực thúc đẩy xã viên tích cực ứng dụng khoa học kỹ thuật, bỏ vốn đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu, thúc đẩy xã viên cùng cày, bừa kỹ, khai hoang phục hóa mở rộng diện tích được khoán. Huyện ủy đã chỉ đạo đưa giống lúa có năng suất cao vào đồng ruộng như X1, Nông nghiệp CR22. Nhờ đó, năng suất và sản lượng lương thực trên địa bàn toàn huyện nhanh chóng tăng lên. Theo số liệu thống kê, vụ chiêm năm 1981, huyện Lương Ngọc đã đạt năng suất bình quân 16,5 tạ/ha gieo trồng, tổng sản lượng lương thực đạt 6.729 tấn thóc, tăng hơn vụ chiêm 1980 là 2.242 tấn.

Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động theo tinh thần Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã làm cho sản xuất nông nghiệp bừng lên sinh khí mới, năng suất và hiệu quả mới. Những khó khăn về lương thực, thực phẩm trên địa bàn huyện Lương Ngọc được khắc phục từng bước. Cơ chế khoán mới thực sự là một bước quan trọng, giải phóng sức lao động trong nông nghiệp. Một bộ phận xã viên từ việc chểnh mảng với công việc đồng ruộng đã hăng say bám đồng ruộng, sản xuất lúa, rau màu lương thực và phát triển đàn chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhiều gia đình đã có lúa, ngô vượt khoán làm cho bà con phấn khởi, vì thế đã khích lệ xã viên tranh thủ thời gian, đầu tư công sức, phân bón để thâm canh, tăng năng xuất đưa sản lượng lúa của ruộng nhận khoán cao hơn. Đời sống vật chất của nhân dân nhìn chung đã được ổn định và có phần cải thiện, một tỷ lệ không nhỏ so với tổng số dân trong toàn huyện đã có tích lũy để phát triển sản xuất và xây dựng nhà cửa.

Về văn hóa - xã hội

Cùng với phát triển kinh tế, Đảng bộ đã đầu tư công sức, trí tuệ lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội. Sự nghiệp giáo dục phổ thông được duy trì. Hệ thống trường Phổ thông cấp I, II, III được đầu tư nâng cấp mở rộng trường lớp, cung cấp thêm trang thiết bị giảng dạy, học tập. Huyện ủy đã tích cực chỉ đạo xây dựng thêm trường cấp III thứ 2 trong huyện. Làm mới hàng trăm phòng học đảm bảo cho con em đồng bào các dân tộc có đủ điều kiện học tập. Phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt” đã đem lại chất lượng mới. Cùng với phát triển mở rộng ngành Giáo dục phổ thông, lĩnh vực giáo dục mầm mon được Đảng bộ và nhân dân huyện nhà đặc biệt quan tâm. Năm 1979, toàn huyện đã xây dựng thêm 290 lớp vỡ lòng, 76 lớp mẫu giáo. Đến năm 1980, xây dựng thêm 97 nhà trẻ do 225 cô giáo phụ trách. Toàn huyện có 2.129 cháu được nuôi dưỡng chăm sóc trong hệ thống nhà trẻ. Các cơ quan, HTX và các bậc phụ huynh đã tạo ra những điều kiện thuận lợi động viên thầy, cô giáo chăm sóc các cháu trưởng thành. Công tác bổ túc văn hóa tiếp tục phát triển mở rộng nhằm nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân lao động và cán bộ, đảng viên trong toàn huyện. Năm học 1979 - 1980, toàn huyện có 1.988 người theo học các lớp cấp I và 1.055 người theo học các lớp cấp II. Việc học tập văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ trở thành quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi công dân được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm chỉ đạo đầu tư.

Công tác y tế chăm lo bảo vệ sức khỏe cho đồng bào các dân tộc trong huyện nhà được đẩy mạnh trên nhiều bình diện. Phong trào xây dựng dứt điểm “4 công trình vệ sinh” được đẩy mạnh trong từng HTX, trong cơ quan, trường học, và trong từng gia đình. Bệnh viện huyện được đầu tư nâng cấp mở rộng, hệ thống trạm xá xã được cung cấp thuốc men và trang bị thêm công cụ chữa bệnh. Năm 1979, đã khám bệnh cho 35.000 người, chữa bệnh cho 8.000 người. Tỷ lệ tử vong là 1,4% đến năm 1981 chỉ còn 0,66%. Phong trào sinh đẻ có kế hoạch được quan tâm. Công tác phòng chống các loại dịch bệnh xã hội như sốt rét, bướu cổ, bệnh lao được đẩy mạnh, nhờ đó tỷ lệ mắc bệnh giảm thấp, sức khỏe và tuổi thọ của đồng bào các dân tộc nâng cao.

Các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa được đẩy mạnh. Công tác văn hóa thông tin, phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng phát triển sâu rộng. Các xã đã xây dựng đội văn nghệ, đội bóng đá, bóng chuyền. Năm 1979, tổ chức thi đấu bóng đá, bóng chuyền toàn huyện đã có 20 đội bóng chuyền, bốn đội bóng đá tham dự. Các môn thể thao như điền kinh, bơi lội, bắn súng, đấu vật được tổ chức sôi nổi. Trong hội thi đã lựa chọn được 45 vận động viên xuất sắc. Tại Đại hội Thể dục thể thao toàn tỉnh, huyện Lương Ngọc đạt giải Nhì. Năm 1980, huyện tổ chức hội diễn văn nghệ quần chúng, đã có 12 đội văn nghệ của các xã, cơ quan tham dự. Phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới phát triển sâu rộng, các hủ tục trong ma chay, cưới xin được dần loại bỏ, nếp sống mới đã làm đẹp bản làng, thôn xóm. Công tác thông tin tuyên truyền được chỉ đạo chặt chẽ và hoạt động tích cực. Toàn huyện tổ chức 6 điểm nói chuyện thời sự và đào tạo 6 báo cáo viên chuyên trách, hàng vạn cán bộ, đảng viên và quần chúng được cung cấp tin tức thời sự, đường lối, chủ trương của Đảng kịp thời, chính xác. Thư viện huyện được đầu tư mua sắm 7.000 cuốn sách và các phương tiện hoạt động thu hút hàng ngàn bạn đọc. Các đội chiếu bóng lưu động đã đến tận vùng sâu, vùng xa phục vụ đồng bào các dân tộc thường xuyên đều đặn. Đội chiếu bóng số 2 được công nhận là “Tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa”. Các mặt hoạt động trên lĩnh vực văn hóa - xã hội đã góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng các yêu cầu về văn hóa tinh thần cho đồng bào các dân tộc.

Về quốc phòng - an ninh

Sau khi các thế lực phản động thù địch gây ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc nước ta, để huy động sức mạnh tổng hợp của đất nước nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, ngày 05 - 3 - 1979, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quyết định tổng động viên “Huy động mọi nhân lực, vật lực, tài lực để đảm bảo nhu cầu cho cuộc kháng chiến cứu quốc”. Tiếp đó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tôn Đức Thắng công bố lệnh Tổng động viên. Chấp hành sự chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh ủy, Huyện ủy Lương Ngọc đã kịp thời chuyển hướng quân sự, chú ý phát triển lực lượng bộ đội địa phương vững mạnh sẵn sàng đi bất cứ lúc nào khi Tổ quốc cần. Khẩu hiệu“Đâu cần thanh niên có” lại vang lên giục giã khắp bản làng. Đảng bộ đã chỉ đạo cơ quan Quân sự huyện phối hợp với Huyện đoàn phát động phong trào thanh niên sẵn sàng tòng quân, lên đường bảo vệ Tổ quốc; xây dựng làng xã chiến đấu, chuẩn bị mọi mặt để chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, xây dựng quê hương và bảo vệ đất nước. Công tác tuyển quân đạt 100% kế hoạch. Công tác an ninh, bảo vệ an toàn quê hương được đẩy mạnh. Đảng bộ, nhân dân huyện Lương Ngọc đã tiễn đưa hàng ngàn thanh niên lên đường nhập ngũ. Riêng năm 1979, hàng ngàn thanh niên Lương Ngọc đã làm đơn tình nguyện lên đường chiến đấu bảo vệ từng tấc đất biên giới thân yêu của Tổ quốc và đã có 1.673 thanh niên được khám tuyển vào bộ đội, năm 1980 có 550 thanh niên nhập ngũ. Cuộc chiến bảo vệ chiến tranh phía Bắc và biên giới Tây Nam, nhân dân trong huyện đã có 4.500 người tình nguyện tham gia. Những con em của quê hương Lương Ngọc lên đường bảo vệ Tổ quốc đã lập nhiều chiến công, tiêu biểu như anh hùng liệt sỹ Lê Đình Chinh.

Trong những năm chiến tranh biên giới phía Bắc diễn ra ác liệt, Đảng bộ huyện Lương Ngọc đã kịp thời chuyển hướng sự lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương trong hoàn cảnh đất nước vừa có hòa bình vừa có chiến tranh. Nhiệm vụ cơ bản, trọng tâm có ý nghĩa chiến lược và ý nghĩa cấp bách trước mắt là kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa với quốc phòng đảm bảo yêu cầu vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu, đánh bại âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch. Nhận thức sâu sắc nhiệm vụ trọng tâm đó, ngày 13 - 10 - 1978, Huyện ủy Lương Ngọc đã ra Nghị quyết về quân sự địa phương, Nghị quyết chỉ rõ: “Tập trung sự lãnh đạo của Đảng bộ, phát huy sức mạnh của hệ thống chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, đẩy mạnh phát triển kinh tế, từng bước giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm. Trong xây dựng phải gắn chặt phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh toàn diện. Nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng sẵn sàng chiến đấu, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội, bảo vệ vững chắc vùng biên giới và các vùng xung yếu trong nội địa, không để tình huống bất ngờ diễn ra, cương quyết xây dựng huyện thành pháo đài quân sự vững chắc”.

Thực hiện Nghị quyết của Huyện ủy về công tác quân sự địa phương, Ban Chỉ huy Quân sự huyện đã xây dựng hoàn chỉnh phương án và tổ chức lực lượng bảo vệ phòng tuyến biên giới và các vị trí xung yếu trong nội địa. Các địa phương tích cực xây dựng, củng cố dân quân tự vệ, xây dựng hệ thống phòng ngự, chuẩn bị điều kiện vật chất, tinh thần sẵn sàng đánh địch nếu chúng liều lĩnh tấn công vào nội địa. Các xã Yên Khương, Phùng Giáo, Phúc Thịnh, Ngọc Khê đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ bố phòng. Trung đoàn “Quyết thắng” là lực lượng sẵn sàng chiến đấu và xung kích trên mặt trận thủy lợi của huyện. Các đơn vị dân quân tự vệ được trang bị vũ khí tổ chức tập luyện, kết hợp sản xuất và sẵn sàng chiến đấu. Công tác quản lý quân dự bị được tiến hành nền nếp, khi cần có thể huy động kịp thời.

Công tác an ninh chính trị được triển khai sâu rộng. Phong trào quần chúng “Bảo vệ an ninh Tổ quốc” đã đem lại lợi ích chính trị xã hội to lớn. Công an và lực lượng vũ trang dựa vào tai mắt của nhân dân điều tra, theo dõi và đấu tranh kiên quyết với các đối tượng chính trị và tội phạm hình sự bảo vệ tài sản tính mạng, tài sản của nhân dân. Các cấp ủy Đảng đã tiến hành củng cố lại các ban công an xã, các đội bảo vệ cơ quan, xí nghiệp, kịp thời xây dựng, củng cố lực lượng ở các khu vực xung yếu chống âm mưu gây rối, gây bạo loạn.

Với sự quyết tâm bảo vệ Tổ quốc và sự chiến đấu kiên cường của quân và dân cả nước, cùng với sự lên án mạnh mẽ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, chiến tranh biên giới phía Bắc kết thúc ngày 18 - 3 - 1979, trong đó có phần đóng góp không nhỏ của quân và dân huyện Lương Ngọc.

Sau chiến tranh biên giới, các thế lực phản động đã sử dụng lực lượng tình báo, tung vào nội địa nắm bắt thông tin, tìm cách liên hệ với các phần tử chống đối chế độ, gây mâu thuẫn nội bộ hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc, tập hợp lực lượng phản động, âm mưu bạo loạn. Chúng tiến hành bao vây, phá hoại, cấm vận nhằm làm suy yếu nền kinh tế, rối loạn chính trị, an toàn của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhận thức đúng âm mưu của các thế lực thù địch đang âm mưu phá hoại nhiều mặt, thực hiện nghiêm túc và quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, của Tỉnh ủy về công tác an ninh - quốc phòng, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Lương Ngọc đã đưa ra nhiều chủ trương, giải pháp, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, tổ chức củng cố lực lượng vũ trang; tổ chức, củng cố lại dân quân, công an, hoạt động thường xuyên; các cơ quan, làng bản thường xuyên tuần tra canh gác; giáo dục quần chúng nâng cao cảnh giác chống gián điệp, biệt kích, chống bọn lừa đảo, trộm cắp. Xây dựng phòng tuyến biên giới vững chắc; xây dựng phương án tác chiến, chống địch xâm nhập biên giới; tuyên truyền nâng cao cảnh giác cho nhân dân về chiến tranh tâm lý của địch; tổ chức đội thanh niên cờ đỏ làm nhiệm vụ công tác xã hội, tuyên truyền nếp sống mới hiệu quả. Chỉ đạo các ngành nội chính chủ động phối hợp với các tổ chức quần chúng, phát động phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng Đồn Biên phòng 503, đảm bảo bình yên cho nhân dân vùng biên giới Việt - Lào.

Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

Công tác xây dựng Đảng được Đảng bộ chăm lo hơn, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, sinh hoạt chính trị tư tưởng thường xuyên, các tổ chức cơ sở Đảng được củng cố kiện toàn. Xây dựng chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể quần chúng vững mạnh đảm bảo cho chủ trương chính sách của Đảng được thực hiện thắng lợi, đảm bảo sự đoàn kết thống nhất trong đồng bào các dân tộc là vấn đề then chốt đã được Huyện ủy chỉ đạo sâu sát, cụ thể. Các đoàn thể đã động viên lực lượng của mình tham gia các công tác lớn như: Công trường 101, đi làm thủy lợi, tuyển quân chi viện cho đồng bào huyện Quảng Xương. Qua từng năm, từng đợt công tác đã có chuyển biến lớn trong hoạt động của các đoàn thể.

Thực hiện Chỉ thị 72 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về nâng cao chất lượng đảng viên và củng cố tổ chức cơ sở Đảng, Chỉ thị 82 CT/TW về phát triển đảng viên, Huyện ủy đã triển khai trong Đảng bộ, có kế hoạch từng bước nhằm đảm bảo tốt yêu cầu nội dung Chỉ thị của Trung ương và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, Đảng bộ huyện đã tích cực chăm lo công tác phát triển đảng viên, xây dựng cơ sở Đảng, xóa điểm trắng không có sự lãnh đạo trực tiếp của cơ sở Đảng. Huyện ủy đã kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng và tổ chức, đẩy mạnh giáo dục đường lối, chủ trương và lý luận cách mạng sâu rộng trong Đảng và trong thế hệ trẻ, đồng thời thông qua hoạt động thực tiễn để lựa chọn, đề bạt cán bộ và kết nạp đảng viên mới. Riêng 6 tháng đầu năm 1981, toàn huyện đã kết nạp 64 đảng viên trẻ có năng lực phẩm chất đạo đức tốt. Từ năm 1977 đến năm 1982, toàn Đảng bộ đã xây dựng hàng chục chi bộ cơ sở, đề bạt hàng trăm cán bộ trẻ các cấp, mở các lớp sơ cấp bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên và cử hàng trăm cán bộ đi học tại trường Đảng của tỉnh và Trung ương. Cùng với sự phát triển về số lượng, Đảng bộ cũng đã chú trọng chất lượng, tích cực phấn đấu nâng cao phẩm chất chính trị đối với cán bộ, đảng viên. Đảng bộ đã tiến hành phân loại tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên một cách nghiêm túc. Qua phân loại, toàn Đảng bộ đã có 3.003 đảng viên đủ tư cách, có 4 đảng bộ đạt danh hiệu Trong sạch vững mạnh và 42 đảng bộ xếp loại khá. Trong quá trình thực hiện Chỉ thị 72 của Ban Bí thư Trung ương, Huyện ủy đã chỉ đạo kiểm tra những đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng và đã khai trừ ra khỏi Đảng hàng trăm đảng viên thoái hóa, biến chất, đảm bảo cho Đảng bộ trong sạch vững mạnh. Thực hiện Chỉ thị 82 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về phát thẻ Đảng, trong những năm 1980 - 1981, Đảng bộ huyện đã hoàn thành phát thẻ Đảng các đợt cho 1.160 đảng viên (trong đó khu vực nông thôn 338 đảng viên, khu vực cơ quan 772 đảng viên). Việc phát thẻ đảng viên đã góp phần thúc đẩy đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng bộ ra sức phấn đấu tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

 Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh đã tạo ra những điều kiện thuận lợi củng cố chính quyền, mặt trận, các đoàn thể quần chúng. Đảng bộ đã tăng cường hàng trăm cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất củng cố hệ thống chính quyền các cấp theo hướng tăng cường chuyên chính vô sản. Mặt trận và các đoàn thể quần chúng được củng cố theo hướng nâng cao vai trò vận động đoàn kết đồng bào các dân tộc huyện nhà thực hiện thắng lợi đường lối chủ trương của Đảng, kế hoạch Nhà nước. Nhờ đó mọi mặt hoạt động trên địa bàn toàn huyện đạt kết quả tốt. Bộ máy chính quyền từ xã đến huyện được kiện toàn, phát huy hiệu lực trong tổ chức, quản lý kinh tế, xã hội.

Các đoàn thể quần chúng đều hướng hoạt động vào vận động đoàn viên, hội viên phát huy quyền làm chủ tập thể trong thực hiện nhiệm vụ, nhất là phát huy tốt vai trò nòng cốt trong các cuộc vận động, phong trào thi đua học tập làm theo các điển hình tiên tiến như phong trào “Định Công hóa”… Đoàn Thanh niên đẩy mạnh “Phong trào 3 xung kích làm chủ tập thể”, xung kích trên các công trường thủy lợi, khai hoang phục hóa, lao động sản xuất xây dựng Hợp tác xã, học tập và rèn luyện, xây dựng cuộc sống mới. Hội Phụ nữ hưởng ứng sôi nổi phong trào “Người Phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Hội viên Hội Phụ nữ tham gia các hội thi do Hội Phụ nữ các cấp tổ chức như: thi cấy, thi cày, các phong trào tăng năng suất lúa, hoa màu.

 Đảng bộ huyện Lương Ngọc ra đời và hoạt động chỉ trong thời gian ngắn (1977 - 1982), trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp nhưng đã tích cực củng cố sự đoàn kết thống nhất, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện sự nghiệp cách mạng trên địa bàn; Đảng bộ chỉ đạo thực hiện bước đầu kế hoạch 5 năm lần thứ ba; tạo được những nhân tố mới, tiến bộ mới trên một số lĩnh vực; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị từ huyện đến xã tập trung phát triển nông nghiệp toàn diện; mở rộng diện tích, tích cực thâm canh tăng năng suất lúa, ứng dụng khoa học kỹ thuật và mở rộng diện tích cây lâm nghiệp. Sản xuất và đời sống nhân dân trong huyện đều ổn định, đó chính là điều kiện và tiền đề cơ bản thuận lợi để giai đoạn mới kế thừa và phát triển.

Phần 5: Sẽ tiếp tục được cập nhật

<

Tin mới nhất

Đảng bộ huyện Lang Chánh 75 năm xây dựng và trưởng thành(31/01/2024 11:02 SA)

Truyền thống lịch sử Đảng bộ huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa: (Phần 5)(29/01/2024 5:48 CH)

Truyền thống lịch sử Đảng bộ huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa: (Phần 4)(09/01/2024 3:18 CH)

Truyền thống lịch sử Đảng bộ huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa: (Phần 3)(28/12/2023 3:28 CH)

Truyền thống lịch sử Đảng bộ huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa: (Phần 2)(20/12/2023 6:51 CH)

HUYỆN LANG CHÁNH - ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TRUYỀN THỐNG - VĂN HÓA, CƠ HỘI CHO CÁC NHÀ ĐẦU TƯ PHÁT...(18/12/2023 10:29 SA)

Truyền thống lịch sử Đảng bộ huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa: (Phần 1)(18/12/2023 9:26 SA)

Khai mạc Lễ hội Chí Linh Sơn năm 2024(20/04/2024 12:35 CH)

Huyện Lang Chánh sau 15 năm thực hiện Chỉ thị số 38 của Ban Bí thư (khóa X) về “Đẩy mạnh công tác...(18/04/2024 7:55 SA)

Hơn 100 hộ dân xã Tân Phúc tham gia tập huấn kỹ thuật chăn nuôi trâu, bò sinh sản, trồng và chăm...(18/04/2024 7:52 SA)

Lễ Phát động “Đợt thi đua cao điểm chào mừng kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam và...(17/04/2024 5:29 CH)

Quý I năm 2024 huyện Lang Chánh đón 36 nghìn lượt khách du lịch(17/04/2024 9:55 SA)

Hội nghị sơ kết cấp ủy quý I, triển khai nhiệm vụ trọng tâm Quý II năm 2024(16/04/2024 5:56 CH)

Gần 1200 học sinh trường Trung học phổ thông Lang Chánh tham gia sàn giao dịch việc làm(16/04/2024 11:14 SA)

Lang Chánh: Tổ chức thành công Hội thi nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ “Tổ liên gia an...(15/04/2024 3:54 CH)

Sôi nổi hội thi "Gia đình bé với an toàn giao thông" tại trường mầm non Tam Văn(13/04/2024 5:06 CH)

Sơ kết tình hình thực hiện Đề án “Sắp xếp, ổn định dân cư khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ ống,...(12/04/2024 6:59 CH)

Hơn 1000 cán bộ, Nhân dân và học sinh huyện Lang Chánh tham gia chạy Việt dã năm 2024(12/04/2024 4:40 CH)

Trường Mầm non thị trấn Lang Chánh II, tổ chức Chương trình “Tôi Yêu Việt Nam” và kỹ năng phòng...(12/04/2024 4:31 CH)

°